Tội hiếp dâm bị xử lý như thế nào ?

1125

A. Các dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm

1) Khách thể của tội hiếp dâm

Tội hiếp dâm xâm phạm vào nhân phẩm, danh dự của người khác, quyền tự do tình dục của người khác

2) Mặt khách quan của tội hiếp dâm

Hành vi khách quan của tội này là hành vi giao cấu với người bị hại trái với ý muốn của họ bằng thủ đoạn dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được hoặc bằng thủ đoạn khác.

Cấu thành tội phạm tội hiếp dâm đòi hỏi người phạm tội phải có hành vi giao cấu với nạn nhân. Nhưng không đòi hỏi hành vi giao cấu phải đã kết thúc về mặt sinh lý. Hành vi giao cấu là trái với ý muốn của người bị hại : người bị hại không chấp nhận sự giao cấu hoặc hành vi giao cấu xảy ra không có ý muốn của người bị hại, vì họ đang trong tình trạng không thể biểu lộ ý chí được.

Hành vi giao cấu với người bị hại trái ý muốn của họ được thực hiện bằng một trong những thủ đoạn sau:

– Thủ đoạn dùng vũ lực là dùng sức mạnh vật chất đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân chống lại việc giao cấu như xô ngã, vật, giữ, bóp cổ nạn nhân…

– Thủ đoạn đe dọa dùng vũ lực là thủ đoạn làm ý chí của người bị hại bị tê liệt, buộc họ phải chịu sự giao cấu mà không dám kháng cự như dọa giết, dọa gây thương tích cho nạn nhân.

– Thủ đoạn lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của người bị hại là thủ đoạn lợi dụng người bị hại vì lý do nào đó không thể chống lại được hành vi giao cấu trái với ý muốn của mình như lợi dụng người bị hại đang trong tình trạng ốm đau…

– Thủ đoạn khác là những thủ đoạn (ngoài ba thủ đoạn trên) giúp cho người phạm tội có thể thực hiện được việc giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ. Những thủ đoạn đó, theo thực tiễn xét xử có thể là thủ đoạn lợi dụng người bị hại đang trong tình trạng không có khả năng biểu lộ ý chí đúng đắn được. Ví dụ: lợi dụng người bị hại đang trong tình trạng bị say rượu nặng hoặc đang trong tình trạng bị bệnh tâm thần… .

Tình trạng này có thể không do nhưng cũng có thể có chính người phạm tội chủ động tạo ra. Ví dụ: người phạm tội chủ động cho nạn nhân uống rượu say để sau đó thực hiện hành vi giao cấu với họ.

3) Chủ thể của tội hiếp dâm

Chủ thể của tội hiếp dâm là bất kỳ người nào (nam giới hoặc nữ giới) có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo Bộ luật Hình sự quy định

4) Mặt chủ quan của tội hiếp dâm

Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp.

Tội phạm biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi gây ra hậu quả.

Liên hệ luật sư tư vấn hình sự : 0913 597 479  ; 0904 902 429 

B. Khung hình phạt đối với tội hiếp dâm

Điều 141. Tội hiếp dâm

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Xem thêm : Làm gì để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ?

C. Một số bản án về tội hiếp dâm

1) Bản án 01

Vào khoảng 09 giờ một ngày cuối tháng 10/2018 (T khai không nhớ ngày nào), Vũ Văn T, sinh năm 1971 ở Thôn S, xã M, huyện L, tỉnh B đang nằm ở ghế nhà một mình thì Nguyễn Thị M, sinh năm 1994 ở cùng thôn là người thiểu năng về trí tuệ, rất hạn chế về nhận thức cũng như khả năng điều khiển hành vi, kể cả về năng lực bẩm sinh M cũng không tự mình làm chủ được, đi xe đạp một mình đến nhà T nói với T: “Anh T ơi, cho em tiền mua quần áo, em vừa đi lên chợ Năm hỏi bộ quần áo 88.000 đồng”.

T nói “ làm gì có tiền nhưng để anh đi tìm, có anh cho”, rồi T đi vào trong giường ngủ của vợ chồng T kê sát tường hậu và tường hồi bên phải (tính theo hướng cửa chính ngôi nhà) để lấy tiền cho M.

Khi T đi vào giường thì M cũng đi vào theo. T lấy trong túi quần dài của vợ T ra 70.000 đồng đưa cho M. Tại đây T đã nảy sinh ham muốn tình dục, muốn giao cấu với M nên T dụ dỗ M lên giường nằm, rồi dùng dương vật đã cương cứng của mình để giao cấu với M. T cho dương vật vào trong âm đạo của M giao cấu khoảng 2 phút sau thì xuất tinh vào trong âm đạo của M, sau đó T và M ra khỏi giường, rồi M tự đi xe đạp của M đi về.

Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1966 là mẹ đẻ của M, thường xuyên theo kỳ có kinh nguyệt thấy cách khoảng thời gian 3 đến 4 tháng (đến đầu tháng 3/2019) bà M1 không thấy M có kinh nguyệt, bà M1 nghi vấn có thể có người đã quan hệ tình dục với M nên bà gặng hỏi M thì được M nói cho biết là T dụ dỗ và đã thực hiện hành vi giao cấu với M.

Ngày 06/3/2019 bà M1 đưa M đi khám, siêu âm thì được biết M đã mang thai được trên 18 tuần. Ngày 25/03/2019 bà M1 đã làm đơn trình báo đến cơ quan Công an để yêu cầu xác minh, điều tra, giải quyết.

Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành xác minh, điều tra đã nhận định, thời gian Vũ Văn T thực hiện hành vi giao cấu với M làm cho bị hại có thai xảy ra vào khoảng cuối tháng 10/2018.

Ngày 18/4/2019 Cơ quan Công an huyện Lạng Giang đã ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc giám định tình trạng tâm thần Nguyễn Thị M, tại thời điểm xảy ra sự việc vào khoảng cuối năm 2018. Khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của M như thế nào?.

Tại Kết luận giám định Pháp y tâm thần số 38/2019/PYTT ngày 15/5/2019 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía bắc kết luận:

“ Nguyễn Thị M, sinh năm 1994, trú tại Thôn S, xã M, huyện L, tỉnh B bị bệnh tâm thần: Chậm phát triển tâm thần nặng (Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi- F72).

Khoảng cuối năm 2018 Nguyễn Thị M bị bệnh tâm thần: Chậm phát triển tâm thần nặng, mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi.

Hiện tại Nguyễn Thị M bị bệnh tâm thần: Chậm phát triển tâm thần nặng, mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi.”.

Ngày 07/8/2019, M đã sinh mổ được một bé gái, đặt tên là Nguyễn M Thương tại Trung tâm y tế huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Ngày 12/9/2019, Công an huyện Lạng Giang đã ra Quyết định trưng cầu giám định trưng cầu Viện khoa học hình sự, – Bộ công an yêu cầu Giám định ADN (Gen) cháu Nguyễn M Thương có phải là con đẻ của chị Nguyễn Thị M và Vũ Văn T không?.

Tại Kết luận giám định số: 5342/C09-TT3 ngày 16/10/2019 của Viện Khoa học hình sự – Bộ Công an kết luận: “Nguyễn M Thương là con đẻ của Nguyễn Thị M. Vũ Văn T là cha đẻ của Nguyễn M Thương với xác suất 99,9999%.”

Bản cáo trạng số: 13/CT-VKS ngày 22/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố Vũ Văn T về tội “Hiếp dâm” theo điểm g khoản 2 Điều 141 Bộ luật Hình sự.

Quyết định của Tòa án :

Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã quyết định : tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội hiếp dâm.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 141; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Vũ Văn T 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 05/11/2019.

Trách nhiệm dân sự : Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều 584; 585; 592 Bộ luật Dân sự năm 2015. Xử buộc bị cáo Vũ Văn T, có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị M 10.000.000đ (mười triệu đồng) …

Liên hệ luật sư tư vấn hình sự : 0913 597 479  ; 0904 902 429