Các dấu hiệu pháp lý của tội Cướp tài sản

2077

Tội cướp tài sản : là một trong những tội phạm có tính chất nguy hiểm cao cho xã hội

A. Các dấu hiệu pháp lý :

1/ Khách thể của tội phạm : đồng thời xâm hại đến 02 quan hệ xã hội Quan hệ sở hữu và Quan hệ nhân thân. Thủ đoạn chiếm đoạt tài sản của tội này là sử dụng vũ khí, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc hành vi khác làm tê liệt ý chí phản kháng của người bị tấn công, nên những hành vi đó của người phạm tội trước hết phải tác động vào thân thể của người bị tấn công mới có thể xâm hại đến quyền sở hữu tài sản. Chính vì thế, hành vi cướp tài sản tác động vào 02 đối tượng là thân thể người bị tấn công và tài sản nên cũng đồng thời xâm hại đến quyền nhân thân và quyền sở hữu tài sản của người bị tấn công và là khách thể trực tiếp của tội phạm. Cướp tài sản là một tội ghép.

2/ Mặt khách quan của tội phạm : được luật hình sự quy định khi có 1 trong 3 hành vi (thủ đoạn chiếm đoạt tài sản) sau :

a/ Hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản : người phạm tội dùng sức mạnh thể chất tác động đến thân thể của chủ tài sản hoặc người khác làm tê liệt ý chí phản kháng của họ nhằm chiếm đoạt tài sản.

Hành vi của người phạm tội có thể sử dụng công cụ, phương tiện hoặc chỉ là dùng sức mạnh thể chất như : đấm, đá, … (không có công cụ phương tiện) tác động lên thân thể của nạn nhân mà người phạm tội cho rằng họ có thể ngăn cản quá trình chiếm đoạt tài sản.

Bằng hành vi tấn công, người phạm tội làm tê liệt ý chí phản kháng của nạn nhân, làm cho khả năng thực tế của sự chống cự không xảy ra như : đâm bị thương nặng nạn nhân, trói nạn nhân, … hoăc nạn nhân có thể chống cự nhưng không đạt hiệu quả. Vì vậy, nếu hành vi sử dụng dùng vũ lực của người phạm tội không có ý định và không đến mức làm tê liệt ý chí phản kháng của nạn nhân nhằm chiếm đoạt tài sản sẽ không cấu thành tội Cướp tài sản mà sẽ cấu thành tội phạm khác.

Hành vi dùng vũ lực tấn công nạn nhân của tội Cướp tài sản có thể gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của họ đến mức phải truy cứu TNHS về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng cũng chỉ cấu thành tội Cướp tài sản (theo nguyên tắc thu hút tội phạm).

b/ Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay lập tức : là việc người phạm tội không dùng vũ lực mà bằng lời nói, hành động hoặc kết hợp lời nói và hành động đe dọa sẽ dùng vũ lực ngay lập tức đối với nạn nhân làm cho họ không còn ý chí phản kháng nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi đe dọa dùng vũ lực của người phạm tội phải ở mức độ mãnh liệt, làm cho người bị đe dọa nhận thức nếu không  thì vũ lực sẽ được dùng ngay tức khắc đối với họ.

c/ Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản

Đây không phải là hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực mà là những hành vi khác làm tê liệt ý chí phản kháng hoặc không còn khả năng phản kháng ở nạn nhân nhằm chiếm đoạt tài sản như : gây mê, dùng rượu hoặc chất kích thích…

Tội Cướp tài sản có cấu thành hình thức, chỉ cần những hành vi được nêu trong mặt khách quan của tội phạm thì tội phạm đã ở giai đoạn hoàn thành.

2/ Mặt chủ quan của tội phạm : tội cướp tài sản được thực hiện bởi lỗi cố ý trực tiếp

B. Hình phạt :

Điều 168. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

By : tuvanphapluatvietnam