Tội cướp giật tài sản : là việc người phạm tội chiếm đoạt tài sản của người khác bằng hành vi nhanh chóng, công khai với thủ đoạn lợi dụng hoặc tạo ra sơ hở, vướng mắc của người quản lý tài sản.
A. Các dấu hiệu pháp lý :
1/ Khách thể của tội phạm : đồng thời xâm hại đến 02 quan hệ xã hội Quan hệ sở hữu và Quan hệ nhân thân.
2/ Mặt khách quan của tội phạm : hành vi chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu khách quan bắt buộc của Tội cướp giật tài sản. Chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn nhanh chóng, công khai.
Chiếm đoạt tài sản nhanh chóng là dấu hiệu thể hiện bản chất thủ đoạn chiếm đoạt tài sản của Tội cướp giật tài sản. Nhanh chóng chiếm đoạt tài sản được hiểu là người phạm tội lợi dụng sơ hở, vướng mắc của người có tài sản, tận dụng điều khách quan có sẵn để tiếp cận và chiếm đoạt ngay tài sản đó.
Ví dụ : đi xe máy rồi giật dây chuyền ở cổ phụ nữ trên đường.
Trường hợp người có tài sản không để sơ hở, vướng mắc trong việc quản lý tài sản, người phạm tội có hành vi dùng vũ lực nhỏ, hành vi gian dối hoặc hành vi khác tạo ra sơ hở, vướng mắc trong việc quản lý của người có tài sản rồi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản thì cũng cấu thành tội cướp giật tài sản. Nhanh chóng không chỉ là đặc điểm của cách thức chiếm đoạt tài sản mà còn thể hiện hành vi chiếm đoạt được thực hiện trong thời gian ngắn làm cho người có tài sản không có điều kiện ngăn cản.
Công khai hành vi chiếm đoạt tài sản : người phạm tội không có ý thức che giấu hành vi chiếm đoạt tài sản đồng thời người có tài sản cũng dễ dàng nhận biết hành vi chiếm đoạt đang xảy ra đối với mình.
Tội cướp giật tài sản có cấu thành vật chất. Việc người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản của người khác sẽ là phạm tội chưa đạt hoặc chuẩn bị phạm tội.
3/ Mặt chủ quan của tội phạm : được thực hiện bởi lỗi cố ý trực tiếp.
B. Hình phạt :
Điều 171. Tội cướp giật tài sản
1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
i) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
c) Làm chết người;
d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
By : tuvanphapluatvietnam






