MỤC LỤC
- 1. Quy định về sinh con bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm ?
- 2. Thụ tinh trong ống nghiệm từ tinh trùng của chồng đã mất ?
- 3. Thụ tinh trong ống nghiệm từ tinh trùng của chồng đã chết thì con có được thừa kế tài sản của bố không ?
- 4. Phòng tránh hôn nhân cận huyết khi thụ tinh trong ống nghiệm từ tinh trùng được hiến tặng ?
1. Quy định về sinh con bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm ?
Câu hỏi : Năm nay đã 36 tuổi, tôi không muốn lấy chồng nhưng muốn có con. Tôi có thể sinh con bằng cách thụ tinh trong ống nghiệm không? Tôi cần phải làm gì?
Luật sư tư vấn :
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cho phép người phụ nữ sống độc thân được sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm). Phụ nữ độc thân là phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Khoản 2 Điều 93 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra (kể cả trường hợp người phụ nữ đó không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai mà họ phải xin phôi thì họ được xác định là mẹ của con được sinh ra).
Để nắm rõ các quy định pháp luật về phụ nữ độc thân sinh con con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, bạn nên nghiên cứu, tìm đọc Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; Nghị định số 98/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 10/2015/NĐ-CP.
Cụ thể, Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định một số nguyên tắc liên quan đến phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm như sau:
– Cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa;
– Việc thụ tinh trong ống nghiệm, cho và nhận noãn, cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện.
– Việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa người cho và người nhận; tinh trùng, phôi của người cho phải được mã hóa để bảo đảm bí mật nhưng vẫn phải ghi rõ đặc điểm của người cho, đặc biệt là yếu tố chủng tộc.
– Việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải tuân theo quy trình kỹ thuật; quy định tiêu chuẩn sức khỏe của người được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và sinh con do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.
Phụ nữ độc thân có nhu cầu sinh con được nhận tinh trùng nếu noãn của họ bảo đảm chất lượng để thụ thai. Nếu họ không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai thì họ được nhận phôi.
Người nhận tinh trùng, nhận noãn, nhận phôi phải có đủ sức khỏe để thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và sinh con; không đang mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV, bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, B; không bị bệnh di truyền ảnh hưởng đến thế hệ sau, không bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.
Để bảo đảm giữ bí mật thông tin cá nhân và tránh tranh chấp trong xác nhận cha, mẹ, con về sau, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định: Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không được cung cấp tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người cho tinh trùng (Khoản 3 Điều 4 Nghị định này); Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không được cung cấp tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người nhận tinh trùng, nhận phôi (Khoản 5 Điều 5 Nghị định này).
2. Thụ tinh trong ống nghiệm từ tinh trùng của chồng đã mất ?
Câu hỏi : Vợ chồng anh H ở cạnh nhà tôi đã kết hôn 05 năm mà chưa có con, mặc dù đã chạy chữa nhiều nơi nhưng chưa có kết quả. Vừa qua, anh H không may bị tai nạn giao thông, sức khỏe ngày một yếu. Vợ anh H dự định gửi tinh trùng của chồng vào bệnh viện để sau này có thể sinh con bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Nếu sau khi anh H qua đời, vợ anh mới đi làm thụ tinh trong ống nghiệm thì con sinh ra có được xác định là con anh H không?
Luật sư tư vấn :
Khoản 4 Điều 21 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định: Người vợ hoặc người chồng sử dụng tinh trùng, noãn, phôi của người vợ hoặc người chồng bị chết “làm phát sinh các quan hệ ngoài quan hệ hôn nhân gia đình thì thực hiện theo quy định của pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật dân sự”.
Khoản 1 Điều 93 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như sau: Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này.
Điều 88 quy định:
– Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
– Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời Điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
– Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
Điều 65 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm vợ hoặc chồng chết”.
Đối chiếu các quy định trên, do vợ anh H thực hiện phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm sau khi anh H chết tức là hôn nhân đã chấm dứt. Vì vậy, con sinh ra trong trường hợp này không được coi là con chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng anh H, vì hôn nhân của họ đã chấm dứt. Do vậy trên Giấy khai sinh của con, phần người cha sẽ để trống (do việc đăng ký khai sinh phải thực hiện trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con – Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014).
Khoản 1 Điều 90 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết. Vì vậy, muốn xác định cha cho con, vợ anh H phải làm thủ tục xác nhận cha cho con theo quy định tại Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết. Sau khi làm thủ tục xác nhận cha, anh H mới được pháp luật thừa nhận là cha của đứa trẻ. Lúc này quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định pháp luật về hộ tịch (tức cơ quan đăng ký khai sinh sẽ ghi vào sổ hộ tịch anh H là cha, và ghi tên anh H vào phần ghi về người cha trên giấy khai sinh của con – Khoản 2 Điều 101 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014). Chị H có thể làm thủ tục cấp đổi Giấy khai sinh cho con để được ghi tên anh H là người cha trên Giấy khai sinh.
3. Thụ tinh trong ống nghiệm từ tinh trùng của chồng đã chết thì con có được thừa kế tài sản của bố không ?
Câu hỏi : Chồng chị D đột ngột qua đời trong một tai nạn lao động. Chị D đã quyết định nhờ các bác sỹ Bệnh viện phẫu thuật và lấy mẫu tinh trùng từ thi thể của chồng đem đi lưu trữ theo phương pháp khoa học. 04 năm sau, chị D đã thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm từ mẫu tinh trùng của người chồng gửi trong Bệnh viện. Kết quả chị đã sinh được 02 con và được các cơ quan có thẩm quyền xác định con do chị sinh ra là con của người chồng quá cố. Xin hỏi, các cháu có được thừa kế tài sản của bố cháu không?
Luật sư tư vấn :
Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết” (Điều 611) và “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết” (Điều 613).
Như vậy, theo quy định trên, nếu chị D làm thụ tinh ống nghiệm từ tinh trùng của chồng sau 04 năm anh ấy chết thì con không được thừa kế tài sản. Vì vào thời điểm mở thừa kế (thời điểm người chồng chết) thì con chưa thành thai.
4. Phòng tránh hôn nhân cận huyết khi thụ tinh trong ống nghiệm từ tinh trùng được hiến tặng ?
Câu hỏi : Tôi nghe đài, báo nói rằng Nhà nước đã cho phép những cặp vợ chồng vô sinh được áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm bằng cách xin tinh trùng, noãn, phôi từ Bệnh viện. Tuy nhiên tôi thấy lo lắng cho tương lai về sau rất dễ nảy sinh hiện tượng hôn nhân cận huyết do những đứa trẻ sinh ra cùng một mẫu tinh trùng do cùng một người nam hiến tặng lại kết hôn với nhau. Đề nghị cho biết Nhà nước có tính đến trường hợp này không? Giải pháp nào để ngăn ngừa trường hợp này?
Luật sư tư vấn :
Khi xây dựng Luật hôn nhân và gia đình, các chuyên gia, nhà làm luật đã tính đến trường hợp hôn nhân cận huyết do những đứa trẻ sinh ra cùng một mẫu tinh trùng do cùng một người nam hiến tặng hoặc cùng một mẫu noãn do cùng một người nữ hiến tặng lại kết hôn với nhau.
Để tránh nguy cơ này, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo quy định:
– Người cho tinh trùng, cho noãn tự nguyện cho tinh trùng, cho noãn và chỉ cho tại một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được Bộ Y tế công nhận được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (Khoản 2 Điều 4 Nghị định).
– Tinh trùng, noãn của người cho chỉ được sử dụng cho một người, nếu không sinh con thành công mới sử dụng cho người khác. Trường hợp sinh con thành công thì tinh trùng, noãn chưa sử dụng hết phải được hủy hoặc hiến tặng cho cơ sở làm nghiên cứu khoa học (Khoản 4 Điều 4 của Nghị định).
Xem thêm : Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định mới nhất ?
Nhấn vào đây để quay về chuyên trang luật sư tư vấn ly hôn hoặc liên hệ luật sư tư vấn thủ tục ly hôn : 0904 902 429






