Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản bị xử lý như thế nào ?

1043

Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là việc người phạm tội với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn bắt cóc người khác làm con tin.

A. Các dấu hiệu pháp lý của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

1) Khách thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Khách thể của Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản giống như khách thể của Tội cướp tài sản. Đó là: quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân.

Thủ đoạn chiếm đoạt tài sản của Tội bắt cóc là tước bỏ quyền tự do thân thể đối với người khác “bắt cóc người khác làm con tin”, nên người phạm tội trước hết phải tác động vào thân thể của người bị tấn công mới có thể xâm hại đến quyền sở hữu tài sản.

Chính vì vậy, hành vi bắt cóc đã tác động đến hai đối tượng: Thân thể người bị bắt cóc và tài sản, nên cũng đồng thời xâm hại đến quyền nhân thân và quyền sở hữu tài sản của người bị tấn công

2) Mặt khách quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được Luật Hình sự quy định khi có hành vi bắt cóc người khác làm còn chiếm đoạt tài sản.

Bắt cóc là hành vi bắt, giam, giữ người khác trái pháp luật con tin nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của chính bản thân họ hoặc của người khác bằng mọi hình thức. Người bị bắt cóc có thể là bất kỳ ai, già hay trẻ, nam hay nữ… ở thông thường là chủ sở hữu tài sản hoặc người có quan hệ thân thuộc với chủ sở hữu, như cha, mẹ, anh chị em…

Trường hợp nhằm chiếm đoạt tài sản của Nhà nước thì đối tượng của hành vi bắt cóc thường là các các nhà lãnh đạo cấp cao trong bộ máy Nhà nước, trong tổ chức kinh tế của Nhà nước.

Khi thực hiện hành vi bắt cóc, người phạm tôi còn có thể gây thương tích, gây tổn hại cho sức khoẻ của người bị bắt cóc làm con tin và được thu hút vào cấu thành của Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Việc bắt cóc người khác làm con tin là hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền tự do thân thể của người bị bắt cóc và nếu không nhằm mục đích chiếm đạt tài sản thì sẽ cấu thành các tội phạm khác (như: Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật …) mà không cấu thành Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.

Để thực hiện mục đích chiếm đoạt tài sản, cùng với việc bắt cóc người làm con tin người phạm tội còn thực hiện hành vi nhắn tin đến chủ sở hữu hoặc người thân, người quản lý tài sản của chủ sở hữu (trong trường hợp chủ sở hữu tài sản là người bị bắt cóc) hoặc cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyên (trong trường hợp chiếm đoạt tài sản Nhà nước) sẽ gây thiệt hại đến sức khoẻ, tính mạng của người bị bắt cóc nếu không giao nộp tài sản theo yêu cầu của chúng. Việc đe đoạ và đưa yêu cầu đến chủ sở hữu hoặc người quản lý, người thân thích của chủ sở hữu bằng các hình thức như: gọi điện thoại, gửi thư, nhắn qua người thứ ba….

Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có cấu thành hình thức, theo quy định của Điều 169 Bộ luật Hình sự thì chỉ cần có hành vi bắt cóc người khác làm con tin tội phạm đã ở giai đoạn hoàn thành. Việc người phạm tội có thực hiện được mục đích chiếm đoạt tài sản hay không, không phải là dấu hiệu định tội và cũng không là dấu hiệu để xác định thời điểm hoàn thành của tội phạm.

3) Mặt chủ quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được thực hiện bởi lỗi cố ý trực tiếp.

Người phạm tội nhận thức được hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản là nguy hiểm cho xã hội, là phạm tội nhưng vẫn thực hiện nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác.

Mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác bằng hành vi bắt cóc là dấu hiệu để phân biệt Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với các tội phạm khác có quy định những hành vi tương tự trong Bộ luật Hình sự, như : tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi…

Liên hệ luật sư tư vấn hình sự : 0913 597 479  ; 0904 902 429 

B. Khung hình phạt đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Điều 169. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

g) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 18 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Làm chết người;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

C. Một số bản án về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

1) Bản án 01

Đường Long G là công nhân làm việc ở trại heo của ông Nguyễn Văn B ở thôn ĐD, xã PT, huyện BA. Làm việc chung tại trại heo, Đường Long G biết gia đình ông Đỗ Văn S có điều kiện về kinh tế nên đã nảy sinh ý định bắt cóc cháu Đỗ Ngọc Phương L – sinh năm 2013 (con gái của ông S, bà T) để yêu cầu gia đình ông S đưa tiền chuộc.

Ngày 15/12/2017, Đường Long G điện thoại cho bạn là La Hoàng V ở tỉnh Đồng Nai ra nhà G để bắt cóc cháu L. Tối ngày 16/12/2017, trong lúc ngồi uống bia tại nhà G thì G bàn bạc với V kế hoạch và thống nhất sau khi bắt được đem giấu cháu L thì sẽ gọi điện yêu cầu vợ chồng ông S phải giao 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng tiền để chuộc rồi chia nhau.

Khoảng 12 giờ ngày 17/12/2017, G chở V đến thôn AX, xã XH, huyện NH gặp Đường Long Ph nhờ Ph: Trông giúp cho G một đứa bé khoảng 02- 03 ngày thì G sẽ trả cho số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, nhưng Ph không đồng ý. Sau đó G tiếp tục chở V đi mua 02 sim điện thoại di động rồi G trở về trại heo. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, G về nhà mượn xe mô tô 85R7- 8574 xe của ông Đường Long H ( Đường Long H là cha ruột của G) cho V làm phương tiện đi bắt cóc cháu L và nói với V khi nào G điện thoại thì chạy xe đến trại heo.

Sau khi thống nhất, G điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81M1-068.93 đến trại heo trước. Khi thấy điều kiện có thể bắt được cháu L, G gọi điện thoại cho V đến, V giấu xe tại bụi cây trâm bầu cách cổng trại heo 100m và đứng tại đây để quan sát. Khi dụ cháu L và một cháu trai ra cổng ngồi chơi, G “vẫy tay” ra hiệu cho V, V liền vào bắt cháu L chạy ra chỗ giấu xe để tẩu thoát. Lúc này bà Nguyễn Thị Th đứng gần đó nhìn thấy V , do sợ bị phát hiện nên V không lấy xe đi mà ẵm cháu L chạy B đến khu vực hồ TS,XH thì thấy anh Lê Văn Ph đang chạy xe tới, nghĩ việc bắt cóc cháu L đã bị phát hiện nên V thả cháu L rồi bỏ trốn. Cháu L sau khi được V thả ra thì được anh Nguyễn Văn Th đang chăn bò gần khu vực này thấy và giao lại cho gia đình ông S.

Tại cơ quan điều tra, Đường Long G và La Hoàng V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời còn khai nhận đã thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện NH, tỉnh Ninh Thuận ; G khai nhận thực hiện 01 vụ “Trộm cắp tài sản” trên địa bàn thành phố PR-TC , tỉnh Ninh Thuận và địa bàn tỉnh Bình Dương.

Quyết định của Tòa án :

Tuyên bố : các bị cáo Đường Long G (tên gọi khác: Chó Em) và La Hoàng V(tên gọi khác: Chù) phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.

Áp dụng : điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm o, p khoản 1 Điều 46 của B luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Đường Long G (Chó Em) 06 (sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (18/12/2017).

Áp dụng : điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo xử phạt bị cáo La Hoàng V (Chù) 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (21/12/2017) …

Liên hệ luật sư tư vấn hình sự : 0913 597 479  ; 0904 902 429