Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bị xử lý như thế nào ?

1415

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là việc người phạm tội chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn lạm dụng tín nhiệm của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản.

A. Các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1) Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

2) Mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Thứ nhất, hành vi chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc. Đó là hành vi cố ý dịch chuyển một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc cho người khác mà mình quan tâm bằng thủ đoạn lạm dụng tín nhiệm.

Thủ đoạn lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao gồm các dấu hiệu sau :

a/ Người phạm tội có hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và kết quả là người phạm tội đã có quyền về tài sản một cách hợp pháp.

b/ Sau khi có tài sản người phạm tội đã không thực hiện nghĩa vụ tài sản theo hợp đồng mà có ý định chiếm đoạt tài sản đó bằng một trong các thủ đoạn : gian dối; bỏ trốn; sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Thứ hai, hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải thỏa mãn điều kiện về giá trị tài sản.

3) Mặt chủ quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Tội phạm được thực hiện bởi lỗi cố ý trực tiếp.

Xem thêmTội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị xử lý như thế nào ?

Liên hệ luật sư tư vấn hình sự : 0913 597 479  ; 0904 902 429 

B. Khung hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật Hình sự năm 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Xem thêm : Làm gì để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ?

C. Một số bản án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1) Bản án 01

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 30/8/2019 Nguyễn Hữu T đi đến cửa hàng cho thuê xe máy “Phú Béo” của ông S, sinh năm 1956 trên đường C, khối 7, phường Trung Đô, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An làm Hợp đồng thuê một chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen bạc, BKS 37 D1-64962, thời hạn thuê tính từ ngày 30/8/2019 đến ngày 02/9/2019, giá thuê xe là 100.000đ/1ngày với mục đích để đi lại.Tuyến đã trả số tiền thuê xe hai ngày là 200.000 đồng.

Sau khi đến hạn hợp đồng thuê xe ông Sơn không thấy Tuyến mang chiếc xe máy đến trả như đã hẹn nên ông Sơn đã nhiều lần điện thoại cho Tuyến nhưng không liên lạc được.

Đến ngày 07/9/2019, Tuyến gọi điện cho ông Sơn xin gia hạn thuê xe thêm hai ngày và được ông Sơn đồng ý.

Đến khoảng 18 giờ 00 phút ngày 10/9/2019 do thiếu tiền tiêu xài cá nhân Nguyễn Hữu T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên mang chiếc xe máy trên đến tiệm cầm đồ Sơn Hải, tại địa chỉ số 45 đường L, xã H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An do anh Phạm Hồng S (sinh năm 1992, trú tại xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh N làm chủ tiệm) cầm cố cho anh Nguyễn Mạnh H (là nhân viên tiệm cầm đồ) số tiền 5.000.000 đồng, số tiền này Tuyến đã tiêu xài cá nhân hết.

Do không thấy Nguyễn Hữu T mang xe đến trả nên ngày 17/9/2019 ông S đã đến Công an phường T, thành phố V trình báo về hành vi của Tuyến.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và biết vụ việc bị cơ quan Công an phát hiện nên ngày 15/10/2019 Nguyễn Hữu T đã đến Công an phường T, thành phố Vinh đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng vụ án : 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen bạc, Biển kiểm soát 37D1-649.62, số khung 12LXDY530361, số máy HC12E5530419.

Tại Kết luận định giá tài sản số 272/KL-ĐGTS ngày 18/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố Vinh kết luận : 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen bạc, Biển kiểm soát 37D1-649.62, số khung 12LXDY530361, số máy HC12E5530419, xe được mua từ năm 2015, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 10/9/2019 có trị giá 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).

Về dân sự: Tài sản đã được trả lại cho chủ sở hữu là ông S. Người bị hại không có ý kiến và yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Cáo trạng số 27/CT-VKS-TPV, ngày 18/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành Phố Vinh truy tố để xét xử Nguyễn Hữu T về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Quyết định của Tòa án : 

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/10/2019.

Liên hệ luật sư tư vấn hình sự : 0913 597 479  ; 0904 902 429