Tội cưỡng đoạt tài sản là việc người phạm tội với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn uy hiếp tinh thần chủ sở hữu, người quản lý tài sản hoặc người khác có liên quan.
MỤC LỤC
A. Các dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng đoạt tài sản
1) Khách thể của tội cưỡng đoạt tài sản
Khách thể của Tội cưỡng đoạt tài sản giống như khách thể của Tội cướp tài sản; đó là: quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân.
2) Mặt khách quan của tội cưỡng đoạt tài sản
Tội cưỡng đoạt tài sản được Luật Hình sự quy định khi có một trong các hành vi sau:
a) Hành vi đe dọa dùng vũ lực xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của người khác : hành vi đe dọa dùng vũ lực của tội phạm này về cơ bản tương tự như hành vi đe dọa dùng vũ lực quy định ở Tội cướp tài sản
Đó là việc người phạm tội không dùng vũ lực mà bằng lời nói, hành động, hoặc kết hợp cả hành động và lời nói de dọa sẽ dùng vũ lực đối với chủ sở hữu, người có trách nhiệm quản lý tài sản hoặc người khác, nếu họ không giao nộp tài sản theo yêu cầu của người phạm tội.
Điểm khác của hành vi đe dọa dùng vũ lực ở Tội cưỡng đoạt tài sản so với Tội cướp tài sản là việc đe dọa vũ lực không phải dùng ngay tức khắc mà sau một khoảng thời gian nhất định vũ lực mới (sẽ) được dùng đối với người bị đe dọa nếu họ không giao nộp tài sản theo yêu cầu của người phạm tội.
Do đó, người bị đe dọa chưa bị lâm vào tình trạng tê liệt ý chí phản kháng mà mới chỉ bị khống chế về tinh thần, nếu muốn người bị đe dọa vẫn có thể kháng cự hoặc trình báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ví dụ : A gọi điện thoại đến chủ tiệm vàng đòi giao nộp 5 cây vàng và đe dọa nếu không làm theo yêu cầu sẽ giết chết.
Như vậy, việc xác định mức độ của hành vi đe dọa sử dụng vũ lực có ý nghĩa quan trọng để phân biệt hành vi của Tội cướp tài sản với hành vi của Tội cưỡng đoạt tài sản. Nếu việc đe dọa dùng vũ lực của người phạm tội làm cho nạn nhân hiểu là không thực hiện theo yêu cầu, vũ lực sẽ được sử dụng ngay đối với họ, thì đó là hành vi thuộc cấu thành Tội cướp tài sản. Còn trong trường hợp người phạm tội không có ý thức sử dụng ngay vũ lực và nạn nhân cũng nhận thức như vậy thì hành vi đe dọa dùng vũ lực thuộc cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản.
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, khi xác định ranh giới hành vi đe dọa dùng vũ lực của Tội cướp tài sản và Tội cưỡng đoạt tài sản phải dựa vào những căn cứ khách quan, chủ quan của sự việc, trên cơ sở đánh giá tổng hợp các tình tiết diễn biến của vụ án và xem xét một cách biện chứng các căn cứ đó.
b) Hành vi khác uy hiếp tinh thần, là hành vi sử dụng thủ đoạn đe dọa gây thiệt hại danh dự, nhân phẩm, tài sản hoặc các lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người quản lý tài sản, người khác nếu không thực hiện yêu cầu của người phạm tội.
Đối tượng của hành vi đe dọa là những thiệt hại tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích hơn pháp hoặc những thông tin, những bí mật đời tư… Những đối tượng này khác với đối tượng là tính mạng, sức khoẻ con người ở hành vi nêu trên.
Tuy nhiên, cả hai loại hành vi giống nhau về tính chất, đều có khả năng khống chế tinh thần của người bị đe dọa. Thủ đoạn đe dọa được thực hiện bằng mọi hình thức: hành động, lời nói, viết thư, gọi điện thoại, nhắn qua người khác… tác động đến đối tượng bị đe doạ với mục đích khống chế tinh thần.
Tội cưỡng đoạt tài sản có cấu thành hình thức, theo quy định của Điều 170 BLHS thì chỉ cần có một trong các hành vi nêu trên tội phạm đã ở giai đoạn hoàn thành. Việc người phạm tội có thực hiện được mục đích chiếm đoạt được tài sản hay không, không phải là dấu hiệu định tội và cũng không là dấu hiệu để xác định thời điểm hoàn thành của tội phạm.
3) Mặt chủ quan của tội cưỡng đoạt tài sản
Tội cưỡng đoạt tài sản được thực hiện bởi lỗi cố ý trực tiếp.
Người phạm tội nhận thức được hành vi đe dọa hoặc hành vi uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt tài sản là nguy hiểm cho xã hội, là phạm tội nhưng vẫn thực hiện nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác.
Mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác bằng các hành vi đe dọa hoặc hành vị uy hiếp tinh thần người khác là dấu hiệu để phân biệt Tội cưỡng đoạt tài sản với các tội phạm khác có quy định những hành vi tương tự trong BLHS, như Tội cưỡng dâm…
Xem thêm :
Liên hệ luật sư tư vấn hình sự : 0913 597 479 ; 0904 902 429
B. Khung hình phạt đối với tội cưỡng đoạt tài sản
Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản
1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
e) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
C. Một số bản án về tội cưỡng đoạt tài sản
1) Bản án 01
Mai Thị Tuyết N là đối tượng từng theo học tại trường trung học cơ sở Thị trấn H, thuộc khóm 5, thị trấn H, huyện H, tỉnh L. Vào năm 2016 N có hành vi dùng dao gây thương tích cho bạn cùng trường sau đó thì N nghĩ học.
Tuy đã nghĩ học nhưng N vẫn thường xuyên đến khu vực trường trung học cơ sở Thị trấn H chơi và có mối quan hệ thân thiết với Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 20/11/2005, ngụ 405A, khóm 1, thị trấn H, huyện H, tỉnh L và Huỳnh Tấn Đ, sinh ngày 26/4/2005, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh L và một số học sinh của trung học cơ sở Thị trấn H.
Do N lớn tuổi hơn và có hành vi gây thương tích cho người khác nên các thành viên trong nhóm của N gọi N bằng chị. N thường xuyên đứng ra bảo vệ các thành viên trong nhóm khi bị bắt nạt nên các học sinh trường trung học cơ sở Thị trấn H rất e sợ N.
Vào khoảng đầu năm 2019, H đề xuất với N sẽ lợi dụng việc học sinh sợ N để đe dọa buộc các học sinh đưa tiền cho N tiêu xài, H sẽ là người đi thu tiền về giao cho N thì N đồng ý.
Từ khoảng tháng 01 đến tháng 8/2019, H yêu cầu Huỳnh Tấn H, sinh ngày 05/12/2005, ngụ 441, khóm 1, thị trấn H, huyện H, tỉnh L, Nguyễn Thành Đ sinh ngày 15/9/2005, ngụ ấp H, xã A, huyện H, tỉnh L và Nguyễn Bảo D, sinh ngày 19/12/2005, ngụ ấp T, xã P, huyện H là học sinh lớp 8 trường trung học cơ sở Thị trấn H mỗi ngày phải nộp cho H số tiền từ 5.000 đồng đến 30.000 đồng để H giao nộp cho N, nếu không nộp sẽ bị đánh. Do H, Đ và D sợ N đánh nên đã nộp cho H mỗi ngày từ 5.000 đồng đến 30.000 đồng. Sau khi nhận tiền H đem về đưa cho N để dùng tiêu xài chung.
Vào khoảng 6 giờ 45 phút ngày 22/8/2019, do N không nộp tiền cho H nên N cùng H và Đ đến trường trung học cơ sở Phạm H đánh H.
Tổng số tiền N và H chiếm đoạt của Đ, H, D là 5.400.000 đồng, trong đó số tiền của Đ là 2.300.000 đồng của H là 2.500.000 đồng và của D là 600.000 đồn. Số tiền chiếm đoạt của Đ, H và D thì N và H chia nhau tiêu xài cá nhân gồm: N nhận 3.000.000 đồng và H nhận 2.400.000 đồng.
Quá trình điều tra, Mai Thị Tuyết N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo khắc phục số tiền chiếm đoạt cho các bị hại.
Đối với hành vi của Nguyễn Ngọc H : lúc thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản thì H chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó việc cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
Đối với hành vi của Nguyễn Tấn Đ: Đ có dùng vũ lực xâm hại sức khỏe của Huỳnh Tấn H nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm và Đ không giúp sức trong việc cưỡng đoạt tài sản. Do đó cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
Cáo trạng số 20/CT-VKSLH, ngày 09 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long truy tố Mai Thị Tuyết N về tội cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quyết định của Tòa án :
Tuyên bố : Bị cáo Mai Thị Tuyết N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Mai Thị Tuyết N 02 ( Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Liên hệ luật sư tư vấn hình sự : 0913 597 479 ; 0904 902 429






