Tội đầu cơ là việc người phạm tội cố ý lợi dụng khan hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo trong thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh mua vét hàng lượng lớn nhằm bán lại thu lợi bất chính.
MỤC LỤC
A. Các dấu hiệu pháp lý của tội đầu cơ
1) Khách thể của tội đầu cơ
Hành vi đầu cơ xâm phạm đến trật tự quản lý thị trường của Nhà nước đồng thời xâm hại đến lợi ích người tiêu dùng.
2) Mặt khách quan của tội đầu cơ
Hoạt động đầu cơ được coi là hành vi khách quan của tội phạm này và nó bao gồm một hệ thống các biểu hiện cụ thể sau:
– Hành vi lợi dụng tình hình khan hiếm hàng hoá hoặc tạo ra sự khan hiếm hàng hoá giả tạo trong tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh. Như vậy, điều kiện dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng hoá là do những nguyên nhân khách quan có thể xảy ra trong đời sống xã hội: Thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh và điều kiện chủ quan thuộc về bản thân người phạm tội là họ đã có hành vi lợi dụng hoặc tạo ra sự khan hiếm hàng hoá của xã hội để trục lợi. Vì vậy, người có hành vi lợi dụng hoặc tạo ra sự khan hiếm hàng hoá trong điều kiện xã hội bình thường không thuộc các trường hợp quy định tại điều 196 này và sẽ không cấu thành tội đầu cơ.
– Hành vi mua vét hàng hoá có số lượng lớn nhằm bán lại thu lợi bất chính. Tiếp theo hành vi lợi dụng tình trạng hiểm hàng hoá hoặc tạo ra sự khan hiếm hàng hoá giả tạo, người phạm tội thực hiện hành vi mua vét hàng hóa. Mua vét hàng hóa được hiểu là mua với số lượng vượt quá nhu cầu sinh hoạt hoặc hoạt động của bản thân một con người, một gia đình hoặc một tổ chức. Mua vét hàng hoá với số lượng lớn của người phạm tội phải nhằm mục đích bán ra để thu lợi bất chính mới là hành vi của tội đầu cơ. Vì vậy, mua vét hàng hoá với số lượng lớn không nhằm mục đích bán ra để thu lợi, như mua vét hàng hoá với số lượng lớn để cứu trợ thì không cấu thành Tội đầu cơ.
– Gây hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả nghiêm trọng do việc mua vét với số lượng lớn hàng hoá là đã đẩy giá hàng hoá lên cao một cách bất thường gây thiệt hại đến lợi ích của người tiêu dùng, gây rối loạn xã hội, ảnh hưởng tới việc điều tiết trong quá trình quản lý kinh tế của Nhà nước.
Tóm lại, hành vi đầu cơ được hiểu là một loạt các dấu hiệu cụ thể như đã trình bày, nếu thiếu một trong các dấu hiệu đó sẽ không bị coi là phạm tội.
3) Chủ thể của tội đầu cơ
Chủ thể của tội đầu cơ (Điều 196 Bộ luật Hình sự) là công dân Việt Nam, người nước ngoài có đủ năng lực TNHS theo quy định của pháp luật.
4) Mặt chủ quan của tội đầu cơ
Tội phạm được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp và có động cơ vụ lợi.
B. Khung hình phạt đối với tội đầu cơ
Điều 196. Tội đầu cơ
1. Người nào lợi dụng tình hình khan hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo trong tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh hoặc tình hình khó khăn về kinh tế mua vét hàng hóa thuộc danh mục mặt hàng bình ổn giá hoặc thuộc danh mục hàng hóa được Nhà nước định giá nhằm bán lại để thu lợi bất chính thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Hàng hóa trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;
b) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
d) Hàng hóa trị giá từ 1.500.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng;
đ) Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Hàng hóa trị giá 3.000.000.000 đồng trở lên;
b) Thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên;
c) Tái phạm nguy hiểm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị xử phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, d, đ và e khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 4.000.000.000 đồng đến 9.000.000.000 đồng;
d) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Liên hệ luật sư tư vấn hình sự : 0913 597 479 ; 0904 902 429






