Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp bị xử lý như thế nào ?

1262

Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính nói chung nguy hiểm hơn tội vô ý làm chết người. Quy tắc an toàn trong trường hợp phạm tội này có tính cụ thể, rõ ràng hơn. Nó cũng đòi hỏi chủ thể có trách nhiệm cao hơn trong việc tuân thủ.

A. Các dấu hiệu pháp lý của tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp 

1) Khách thể của tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp

Tội phạm này xâm phạm quyền sống của người khác.

2) Mặt khách quan của tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp

Hành vi vô ý làm chết người. Đây là trường hợp người phạm tội có hành vi vi phạm quy tắc nghề nghiệp với tính mạng của người khác. Người phạm tội là người có nghĩa vụ phải tuân thủ quy định nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính.

Với đặc điểm trên đây, tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính nói chung nguy hiểm hơn tội vô ý làm chết người. Quy tắc an toàn trong trường hợp phạm tội này có tính cụ thể, rõ ràng hơn. Nó cũng đòi hỏi chủ thể có trách nhiệm cao hơn trong việc tuân thủ.

3) Mặt chủ quan của tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp

Lỗi vô ý dẫn đến hậu quả chết người.

4) Chủ thể của tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp

Chủ thể của tội phạm là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi luật định.

Xem thêm : 

Liên hệ luật sư tư vấn hình sự : 0913 597 479  ; 0904 902 429 

B. Khung hình phạt đối với tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp

Điều 129. Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

1. Người nào vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

C. Một số bản án về tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp

1) Bản án 01

Ngày 20/9/2017, Chi nhánh Điện Lực N thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện lực Đồng Nai ký hợp đồng số 80/HĐ-ĐLNT với Công ty Cổ phần dịch vụ xây dựng Q để thi công các hạng mục công trình tại các trạm biến áp V, tuyến 480 ĐK thuộc xã V, huyện N.

Sau đó, Công ty Q thuê Nguyễn Văn H thi công. H tiếp tục thuê các anh Phạm Đình T, Hoàng Văn K, Nguyễn Thanh S, Trần Ngọc T1, Nguyễn Vũ Khải H1, Phan Văn M, Huỳnh Như Y, Phạm Văn C, Đắc Đình S1, Bùi Trọng T2, Phạm Văn C2, Đỗ Thiên Đ, Nguyễn Văn V, Danh Chí X, Lê Minh T3 và anh Lê Hữu M (sinh năm 1991), ngụ tại xã B, huyện P, tỉnh H là những người không được qua đào tạo, không được huấn luyện về công tác an toàn điện để thực hiện công việc.

Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 10/11/2017, anh Đỗ Đức T4 (sinh năm 1976) tổ trưởng tổ trực Trung tâm  Điện lực N thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện lực Đồng Nai phân công Phạm Đức T5 đi chỉ huy, kiểm tra và cho phép đóng ngắt nguồn điện để Công ty Q thi công sửa chữa các hạng mục tại tại trạm điện V 09 thuộc ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Anh Nguyễn Thi L (sinh năm 1982) trưởng ca trực của Điện Lực N thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện lực Đồng Nai điều động Phạm Ngọc T6 đi cùng T5 để thực hiện các thao tác kỹ thuật theo yêu cầu của T5.

Vào khoảng 09 giờ 00 ngày 10/11/2017, T5 điều khiển xe ô tô biển số 60C2-03203 (của Điện lực N) chở T6 đến trạm V 09 và yêu cầu T5 ngắt nguồn điện mà không kiểm tra số lượng và bậc an toàn của người lao động được phép thi công công trình theo phiếu công tác số 11/11/17 ngày 10/11/2017 của Tổ trực Trung tâm thuộc Đội Quản lý vận hành đường dây và trạm biến áp – Điện lực N với số lao động làm việc thực tế tại công trình, dẫn đến tình trạng người lao động không có tên trong công việc yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động như anh X, anh T4, anh M mà ký vào phiếu công tác rồi giao cho H.

Đến khoảng 14 giờ 00 cùng ngày, T5 gọi điện thoại cho H hỏi đã thi công xong chưa và yêu cầu H cầm theo phiếu công tác đến đường H gần trạm điện V 10 thuộc ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai đợi T5 và T6 để bàn giao phiếu công tác.

Trước khi đi bàn giao phiếu công tác, H điều khiển xe mô tô đi qua chỗ anh M đang thi công đấu nối đường điện trên trụ điện số 08 đường hẻm vào Trường tiểu học V2 thuộc ấp T, xã V, huyện N. H thông báo đóng nguồn điện nhưng không yêu cầu anh M rút khỏi công trình mà H tiếp tục đi ra đường HV đến gần Trạm điện V10 gặp T5 và T6.

Tại đây, T5 và H cùng ký chốt vào phiếu công tác, T5 nhận phiếu công tác từ tay H nhưng không đi đến thực tế tại hiện trường để rà soát, kiểm tra toàn bộ quá trình thực hiện công việc của đơn vị thi công và không yêu cầu người lao động rút khỏi công trình mà ra lệnh cho T6 ra đóng nguồn điện.

Khi T6 nhận lệnh đóng nguồn điện, mặc dù biết T5 không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cần thiết trước khi ra quyết định cho phép đóng nguồn điện nhưng T6 không từ chối thực hiện mà vẫn đi đến trạm điện V09 để đóng điện.

Hậu quả, anh M đang thi công trên trụ điện số 08 đường hẻm vào Trường tiểu học V 2 thuộc ấp T, xã V, huyện N, bị điện giật chết tại hiện trường.

Quyết định của Tòa án :

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 115/2018/HSST ngày 14/11/2018, Tòa án nhân dân huyện N quyết định : tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Đức T5, Phạm Ngọc T6 phạm tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp.

Áp dụng khoản 1 Điều 129, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 129, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xử phạt Phạm Đức T5 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Áp dụng khoản 1 Điều 129, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xử phạt Phạm Ngọc T6 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, trách nhiệm dân sự,án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Xem thêm : Điều kiện để được hưởng án treo ?

Liên hệ luật sư tư vấn hình sự : 0913 597 479  ; 0904 902 429