Tội xâm phạm chỗ ở của người khác bị xử lý như thế nào ?

1232

Tội xâm phạm chỗ ở của người khác được thể hiện bằng một trong ba hành vi là : khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác; đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân.

A. Các dấu hiệu pháp lý của tội xâm phạm chỗ ở của người khác

1) Khách thể của tội xâm phạm chỗ ở của người khác

Khách thể của tội phạm này là quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân. Hiến pháp năm 2013 quy định :

Điều 22.

  1. Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp.
  2. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.
  3. Việc khám xét chỗ ở do luật định.

Khái niệm “chỗ ở của công dân” trong Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 2015 có thể được hiểu là bất kỳ một nơi nào đang có người cư trú hợp pháp và được cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương thừa nhận như :

a) Nơi thường trú, ở lâu dài và không kể đó là thuộc hình thức sở hữu nào (nhà riêng, nhà ở trong tập thể cơ quan hoặc nhà do thuê hay là nơi ở di động như thuyền của ngư dân quanh năm làm ăn trên sông);

b) Nơi tạm trú (phòng ở trong khách sạn).

Ngoài ra, tội phạm này còn vi phạm đến các quy định của pháp luật về việc khám xét chỗ ở, địa điểm và xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội.

2) Mặt khách quan của tội xâm phạm chỗ ở của người khác

Mặt khách quan của tội phạm này được thể hiện bằng một trong ba hành vi là : khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác; đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân.

a) Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác là hành vi của người không có (hoặc tuy có thẩm quyền do luật định nhưng không chấp hành theo đúng các trình tự, thủ tuc do luật định về căn cứ, thẩm quyền ra lệnh, thủ tục khám xét) nhưng vì mục đích vụ lợi (hoặc động cơ cá nhân nào đó) nên đã tùy tiện vào chỗ ở của người khác ở để lục soát, khám xét, …

b) Đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ là hành vi đe dọa dùng vũ lực, dùng vũ lực hoặc thủ đoạn bất kỳ nào nhằm buộc người khác miễn cưỡng phải rời khỏi chỗ ở trái với ý muốn của họ.

c) Hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân có thể được hiểu là bất kỳ hành vi nào khác (ngoài hai dạng hành vi nêu trên) xâm phạm đến chỗ ở của công dân như: lấn chiếm chỗ ở của công dân, tùy tiện vào chỗ ở của người khác mà không được sự đồng ý của họ, …

3) Chủ thể của tội xâm phạm chỗ ở của người khác

Chủ thể của tội phạm này là người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định. Trong một số trường hợp chủ thể của tội phạm này cũng có thể là người có chức vụ, quyền hạn.

4) Mặt chủ quan của tội xâm phạm chỗ ở của người khác

Tội phạm này được thực hiện với hình thức lỗi cố ý, động cơ, mục đích phạm tội này có thể rất đa dạng nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

Liên hệ luật sư tư vấn hình sự : 0913 597 479  ; 0904 902 429 

B. Khung hình phạt đối với tội xâm phạm chỗ ở của người khác

Điều 158. Tội xâm phạm chỗ ở của người khác

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm chỗ ở của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác;

b) Đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ;

c) Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ;

d) Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Làm người bị xâm phạm chỗ ở tự sát;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

C. Một số bản án về tội xâm phạm chỗ ở của người khác

1) Bản án 01

Trong khoảng thời gian từ ngày 09/02/2017 đến ngày 26/02/2017 bà  Nguyễn Thị D (sinh 1963 trú tại tổ 27, thị trấn CH, huyện ĐH) có vay tiền của Phạm Ngọc S dưới hình thức chơi họ. Tính đến ngày 03/3/2017 thì bà D đã vay của S 3 bát họ với số tiền là 43.000.000 đồng (1 bát họ là 10.000.000 đồng thì S sẽ lấy luôn tiền lãi là 1.000.000đ, số tiền bà D được nhận là 9.000.000đ, bà D trả cho Sơn số tiền gốc trong 50 ngày, số tiền phải trả là 200.000đ/ngày).

Trong quá trình đóng tiền họ cho S, bà D không thực hiện đúng hạn từ ngày 03/3/2017 nên ngày 06/3/2017 S đã nhiều lần gọi điện thoại cho bà D không được thì S đã mang hộp sơn xịt đến phun vào tường, vào cửa nhà bà D với nội dung “ trả tiền đi” “ trả tiền cho tao”.

Tối ngày 08/3/2017, bà D đến cửa hàng cho thuê xe máy, xe đạp của S tại tổ 18, phường TV, thành phố T N để khất nợ thì S không đồng ý, bà D bảo để về nhà vay tiền hàng xóm trả thì S liền đi cùng về nhà bà D, nhưng do bà D không vay được tiền nên S đi về cửa hàng của mình rồi gọi điện thoại cho Phạm Minh T (sinh năm 1988, trú quán tổ 04, phường TD, thành phố TN) và Vũ Việt Ð (sinh năm 1990, trú quán tổ 05, phường TD, thành phố TN) đến cửa hàng của mình, tại đó S đã rủ T và Ð đi cùng S sang nhà bà D gây áp lực buộc bà D phải trả nợ tiền cho mình thì hai người đồng ý.

Sau đó, S lấy xe ô tô BKS 20A –20149 của mình, mang sẵn theo chăn, chiếu rồi đi sang nhà bà D. Khi đến nhà bà D, S yêu cầu bà D trả tiền nhưng bà D không có tiền trả nợ cho S nên S bảo Đ ra xe lấy chăn, chiếu trải ra nền nhà đồng thời bật nhạc to, hát hò gây ồn ào mục đích buộc bà D phải trả tiền cho S.

Đến sáng ngày 9/3/2017, S dặn T và Đ ở lại canh chừng bà D còn S thì về nhà lấy một loa di động, 1 micro đến nhà bà D rồi cùng T, Đ mở nhạc to và nói qua loa  là “trả nợ đi” mục đích thông báo cho hàng xóm của bà D biết việc bà D vay nợ nhưng không trả và làm bà D xấu hổ với làng xóm về việc nợ nần.

Đến khoảng 12 giờ ngày 09/3/2017 có bà Phạm Mai H (sinh năm 1966 là bạn của bà D đến thỏa thuận với S sẽ cho bà D vay 10.000.000đ để trả trước cho S, nếu S đồng ý thì nhận tiền và rời khỏi nhà bà D nhưng S không đồng ý mà yêu cầu phải trả một nửa số tiền đã  vay, số còn lại bà Hiền phải viết giấy đảm bảo sẽ cam kết cùng bà D trả nợ. Với yêu cầu của S thì bà H không đồng ý nên S, T và Đ tiếp tục ở lại nhà bà D.

Đến sáng ngày 10/3/2017, do có việc riêng nên Sơn rời nhà bà D đi Quảng Ninh, còn lại T và Đ ở lại nhà bà D tiếp tục hát, bật nhạc đám ma, khoảng 15 giờ cùng ngày bà D đã uống thuốc diệt cỏ tự sát, đến ngày 11/3/2017 thì tử vong tại gia đình.

Khi thấy bà D tự tử, T, Đ đã bỏ trốn khỏi địa phương. Sau đó từ ngày 14/03 đến ngày 16/03/2017 Phạm Ngọc S, Phạm Minh T, Vũ Việt Đ đã đến Công an huyện Đồng Hỷ đầu thú khai nhận về hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 61/KSĐT-TA ngày 11 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ đã truy tố các bị cáo Phạm Ngọc S, Phạm Minh T và Vũ Việt Đ về tội xâm phạm chỗ ở của công dân theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 124 Bộ luật hình sự.

Quyết định của Tòa án :

Tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc S, Phạm Minh T và Vũ Việt Đ phạm tội xâm phạm chỗ ở của công dân.

Áp dụng :

Điểm c khoản 2 Điều 124, điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 BLHS năm 1999, điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 xử phạt Phạm Ngọc S 30 (ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Điểm c khoản 2 Điều 124, điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 BLHS năm 1999, xử phạt Phạm Minh T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Vũ Việt Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm …

Xem thêm : Điều kiện để được hưởng án treo ?

Liên hệ luật sư tư vấn hình sự : 0913 597 479  ; 0904 902 429