Tội buôn lậu là việc người phạm tội dùng mọi thủ đoạn thực hiện hành vi buôn bán trái phép hàng hoá, tiền tệ, kim khí vui, đá quí, vật phẩm thuộc di tích lịch sử qua biên giới nhằm mục đích thu lợi bất chính.
MỤC LỤC
A. Các dấu hiệu pháp lý của tội buôn lậu
1) Khách thể của tội buôn lậu
Khi thực hiện hành vi buôn lậu, người phạm tội đã xâm hại tới trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá, tiền tệ – quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và do đó trở thành khách thể của Tội buôn lậu.
Đối tượng của tội buôn lậu bao gồm:
a) Hàng hoá (những vật có giá trị và giá trị sử dụng) là hàng hoá thông thường và cả những hàng hoá bị Nhà nước cấm sản xuất, lưu hành, tiêu dùng. Đối với hàng cấm thì chỉ những hàng hóa nào chưa được quy định ở những tội phạm khác trong BLHS mới là đối tượng của Tội buôn lậu, như: Vũ khí quân dụng, chất ma tuý, chất phóng xạ…
b) Tiền tệ, bao gồm tiền Việt Nam (VND), các loại séc, ngân phiếu, tín phiếu… do các ngân hàng Việt Nam hoặc tổ chức tài chính Việt Nam phát hành, ngoại tệ;
c) Kim khí quý, đá quý;
đ) Vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa. Đây là loại vật phẩm vật phẩm mà Nhà nước cấm xuất khẩu, nhập khẩu hoặc quản lý chặt chẽ cấp giấy phép xuất, nhập khẩu.
2) Mặt khách quan của tội buôn lậu
Tội phạm được quy định bởi hành vi buôn bán hàng hoá, tiền tệ, kim khí quý, đá quý, vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hoá trái phép qua biên giới.
Hành vi buôn bán được hiểu là hành vi mua, bán, trao đổi hàng hoá tiền tệ, kim khí quý, đá quý, vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hoá nhằm mục đích kiếm lời thông qua các giao dịch đó. Khi có một trong các hành vi nêu trên đã cấu thành tội phạm (CTTP), không cần phải có đủ hành vi mua và bán. Chẳng hạn: Mua hàng để mang qua biên giới trái phép bán kiếm lời.
Địa điểm thực hiện hành vi buôn bán hàng hoá, tiền tệ, vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hoá trái phép phải ở biên giới, giữa Việt Nam với các nước hoặc với lãnh thổ không thuộc quốc gia nào qua các cửa khẩu trên bộ, biển, hàng không.
Được coi là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới khi không khai báo hoặc khai báo gian dối về số lượng, chủng loại, phẩm cấp… hàng hoá tiền tệ, vật phẩm thuộc di tích lịch sử với cơ quan Hải quan bằng mọi thủ đoạn.
Thực tế đấu tranh chống tội phạm buôn lậu ở nước ta vong những năm vừa qua cho thấy bọn tội phạm thường dùng các thủ đoạn : Trốn tránh sự kiểm soát của cơ quan hải quan và các cơ quan chức năng khác, khai báo không đúng với số lượng và chủng loại, phẩm cấp hàng hoá so với thực tế, dùng các loại giấy tờ giả mạo, tẩy xóa nhằm đánh lừa cơ quan có thẩm quyền…
Tội buôn lậu hoàn thành từ thời điểm khi thực hiện hành vi buôn bán hàng hoá, tiền tệ, kim khí quả phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa qua biên giới.
Tôi buôn lậu được lượng hoá, ngoài hành vi buôn bán vật phẩm thuộc di tích lịch sử không quy định số lượng và giá trị thì các đối tượng hàng hóa, tiền tệ… còn lại đều quy định số lượng hoặc giá trị để xác định CTTP.
3) Chủ thể của tội buôn lậu
Chủ thể của Tội buôn lậu (Điều 188 Bộ luật Hình sự) là công dân Việt Nam, người nước ngoài có đủ năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) theo luật.
4) Mặt chủ quan của tội buôn lậu
Tội phạm được thực hiện bởi lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi buôn bán trái phép qua biên giới là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước và nhân dân, xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế nhưng vẫn thực hiện và mong muốn thực hiện hành vi đó nhằm mục đích kiếm lời.
Mục đích thu lợi bất chính thông qua hành vi buôn lậu của người phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này và nó là căn cứ để phân biệt với Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới.
B. Khung hình phạt đối với tội buôn lậu
Điều 188. Tội buôn lậu
1. Người nào buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Vật phạm pháp là di vật, cổ vật.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
d) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
đ) Vật phạm pháp là bảo vật quốc gia;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
h) Phạm tội 02 lần trở lên;
i) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:
a) Vật phạm pháp trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
b) Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên;
c) Lợi dụng chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
6. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; hàng hóa trị giá dưới 200.000.000 đồng nhưng là di vật, cổ vật; hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, h và i khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng;
d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này, thì bị phạt tiền từ 7.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
đ) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
e) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Xem thêm : Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới bị xử lý như thế nào ?
Liên hệ luật sư tư vấn hình sự : 0913 597 479 ; 0904 902 429






